1. Tuyển điều hành (MOD) cho Diễn đàn hoa nhanh chân đăng ký nha các bạn

    ♥ Ra mắt Bộ sưu tập ảnh hoa chất lượng cao do các thành viên VF đóng góp

    Viết bài cho Từ điển các loài hoa nhận nhuận bút liền tay

    ♫ Khai trương Bách hóa di động mọi người ghé ủng hộ cái nào :)

Chữa bệnh máu và viêm nhiễm

Thảo luận trong 'Hoa và Y học' bắt đầu bởi firefly, 27/3/11.

  1. firefly Leader
    firefly

    firefly Leader Thành viên BQT

    Tham gia ngày:
    30/11/10
    Bài viết:
    906
    Đã được thích:
    27
    Điểm thành tích:
    28
    Nghề nghiệp:
    terrorism
    Nơi ở:
    Old Trafford
    Trong y học cổ truyền, hoa cúc vàng được dùng để trị huyết áp cao, chóng mặt, nhức đầu, đau mắt đỏ, chảy nhiều nước mắt, đinh độc, mụn nhọt, sưng đau. Ngày dùng 8-12 g dưới dạng thuốc sắc hoặc đắp ngoài (trị mụn nhọt). Việc uống nước hoa cúc lâu ngày giúp lợi khí huyết, trẻ lâu. Các nhà khoa học đã áp dụng điều trị cho một nhóm bệnh nhân bị viêm thoái hóa hoàng điểm (thị lực còn 1/10- 3/10) bằng bài thuốc gồm hoa cúc vàng và một số vị khác. Sau 1-2 tháng hoặc lâu hơn, các bệnh nhân không còn đau đầu, mất ngủ, thị lực tăng dần (đa số đạt 5/10-7/10).

    Hoa cúc trắng (loại nhỏ) cũng có công dụng tương tự như cúc vàng. Trong y học Trung Quốc, cúc trắng được hãm với nước nóng uống để trị cao huyết áp, đau dây thần kinh, đau đầu, chóng mặt (mỗi ngày dùng 6-12 g sắc uống) hoặc chế thành cao bôi chữa viêm da có mủ.

    Sau đây là tác dụng chữa bệnh của một số loại hoa khác:

    1. Hoa hồng

    - Hoa hồng trắng: Là vị thuốc chữa ho trẻ em rất công hiệu. Hãm 20-30 g cánh hoa tươi với 100 ml nước sôi trong 15-20 phút, thêm 1-2 thìa cà phê đường, uống 2-3 lần trong ngày.
    Để chữa miệng lưỡi lở loét, dùng mấy cánh hoa hồng trắng giã nhỏ, trộn với mật ong, bôi hoặc ngậm. Nếu da có mụn nhọt sưng tấy, giã hoa hồng trắng đắp, mụn sẽ tiêu.
    Trong y học cổ truyền Ấn Độ, hoa hồng trắng là thuốc giải nhiệt, hạ sốt, chữa đánh trống ngực và có tác dụng sinh tinh mạch. Việc dùng hoa hồng trắng hãm uống còn giúp nhuận tràng.
    - Hoa hồng đỏ: Trong y học cổ truyền có, loại hoa này được dùng chữa bế kinh, đau bụng kinh, ứ huyết sau sinh, giúp ra thai đã chết trong bụng (vì vậy phụ nữ có thai không nên dùng). Nhiều nghiên cứu đã chứng minh, hoa hồng đỏ có tác dụng hoạt huyết, trị ứ máu, có thể dùng trong các trường hợp viêm tắc mạch.
    Tại một số bệnh viện, dược phẩm làm từ cao tinh chế của hoa hồng đỏ, đan sâm, xuyên khung, mẫu đơn, giáng hương đã được áp dụng điều trị cho 122 bệnh nhân đau thắt ngực do bệnh mạch vành tim. Thuốc có hiệu quả chống đau thắt ngực ở 80% bệnh nhân.

    2. Hoa hòe

    Nụ hoa hòe chứa hoạt chất rutin với hàm lượng rất cao (20% hoặc cao hơn). Rutin giúp giảm tính thấm của các mao mạch và tăng sức bền thành mạch, hạn chế suy tĩnh mạch tuổi già. Nụ hòe có thể dùng làm thuốc cầm máu, trị chảy máu, dự phòng các tai biến khi mạch bị xơ vữa dễ vỡ, khi có tổn thương mao mạch (nhất là khi có chảy máu dưới da, chảy máu võng mạc, chảy máu do tăng huyết áp và xơ vữa động mạch).
    Nụ hoa hòe còn có tác dụng hạ huyết áp rõ rệt, được dùng trị tăng huyết áp thể nhẹ và vừa, bệnh mạch máu do tiểu đường, bệnh võng mạc, thiểu năng tuần hoàn não. Mỗi ngày lấy 6-12 g nụ hoa hòe sao vàng, sắc hoặc hãm uống như chè; cũng có thể uống 2-6 viên rutin C, mỗi viên chứa 0,02 g rutin và 0,05 g vitamin C.
     

Chia sẻ trang này